Hiển thị các bài đăng có nhãn du-hoc-nhat-ban. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn du-hoc-nhat-ban. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

Lưu học sinh nước ngoài 'lên giá' tại Nhật Bản

Trong bối cảnh các doanh nghiệp Nhật Bản tích cực tìm kiếm nhân tài để vươn ra thị trường quốc tế, những lưu học sinh nước ngoài tại Nhật Bản, vốn vừa hiểu rõ văn hóa Nhật Bản vừa có khả năng hội nhập quốc tế, ngày càng được trọng dụng. Không chỉ tập đoàn lớn, ngay cả những doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng tham gia cuộc đua tuyển dụng lưu học sinh nước ngoài.

Lưu học sinh nước ngoài tại Nhật Bản đang được đánh giá cao. Ảnh: Internet

Hồi cuối tháng 6, Hội Công thương Tôkyô đã tổ chức một buổi giao lưu giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực thủ đô Tôkyô với các lưu học sinh nước ngoài. Có tới 38 doanh nghiệp Nhật Bản mở bàn giao lưu với 330 du học sinh tham dự. Đây là con số khá khiêm tốn, song cũng lớn hơn rất nhiều so với 2 lần tổ chức trong thời gian gần đây.

Điểm nổi bật của buổi giao lưu là những du học sinh đến tham dự không chỉ có khả năng nghe nói tiếng Nhật mà phong cách ăn mặc bên ngoài cũng không hề khác các sinh viên bản địa. Cao Lạc, một sinh viên người Trung Quốc đang theo học tại khoa Kinh doanh, Đại học Osaka, cho biết anh muốn làm việc tại một doanh nghiệp vận tải làm cầu nối giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Nếu như trước đây, các doanh nghiệp Nhật Bản, chủ yếu là tập đoàn lớn hoặc các doanh nghiệp trong lĩnh vực chế tạo, phải tuyển dụng lưu học sinh nước ngoài là do tình trạng lão hóa dân số tại Nhật Bản khiến thị trường trong nước bị thu hẹp, buộc các doanh nghiệp này phải mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài. Gần đây, không chỉ tập đoàn lớn mà ngay cả các công ty vừa và nhỏ cũng đẩy mạnh tuyển dụng lưu học sinh khiến mức độ cạnh tranh để tuyển dụng được một lưu học sinh nước ngoài ưu tú trở nên khá quyết liệt.

Tương tự, không dừng lại ở các doanh nghiệp chế tạo, các doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác cũng bước vào tìm kiếm “mỏ vàng chất xám” trong số lưu học sinh tại Nhật Bản. Công ty Daiwa Living chuyên quản lý các tòa chung cư, vào tháng 11/2012 đã lần đầu tiên thành lập một liên doanh tại Hàn Quốc để triển khai hoạt động ra thị trường nước ngoài. Hàn Quốc chỉ là bước đầu tiên để Daiwa Living mở rộng họat động ra các nước châu Á khác như Việt Nam nên Daiwa Living chủ trương tuyển dụng lưu học sinh, những người nắm khá rõ tình hình trong nước.

Năm 2007, số lưu học sinh tốt nghiệp các trường đại học, dạy nghề được các công ty Nhật Bản tuyển dụng lên mức kỷ lục là 9.600 người. Con số này giảm xuống mức 6.000 người sau sự kiện tập đoàn Leman Brothers sụp đổ, tuy nhiên bắt đầu phục hồi với mức 8.000 người năm 2011. Đồng yên lên giá đã đẩy các doanh nghiệp Nhật Bản ra nước ngoài sản xuất, và việc họ phải tìm kiếm nhân tài người bản địa là điều đương nhiên.

Theo Giám đốc Trung tâm Data Vision, tổ chức chuyên hỗ trợ sinh viên nước ngoài tìm việc tại Nhật Bản, năm 2013 các doanh nghiệp Nhật Bản rất quan tâm tới các lưu học sinh đến từ các nước Đông Nam Á. Lý do là quan hệ Nhật - Trung đang xấu đi và doanh nghiệp Nhật Bản chủ trương phân tán đầu tư ra khỏi Trung Quốc để tránh rủi ro. Đặc biệt, lưu học sinh Mianma, đất nước vừa mới mở cửa kinh tế, đang được săn lùng như những “quả trứng vàng”. Chỉ có 1.151 lưu học sinh Mianma, chiếm khoảng 0,8% số lưu học sinh nước ngoài tại Nhật Bản. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp đã đề nghị Data Vision giới thiệu lưu học sinh người Mianma để tuyển dụng với chi phí giới thiệu cao gấp hai lần mức thông thường.

Nguồn:Báo Tin Tức

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

Du học Nhật Bản – Tổng quan về đất nước Nhật Bản

Diện tích: tổng diện tích 378.000 km2 đứng thứ 62 trên thế giới
Dân số: 127 triệu người (năm 2010), xếp thứ 10 trên thế giới
Thể chế: quân chủ lập hiến và cộng hoà đại nghị
phu-si-nhat-ban(1)Thủ đô: Tokyo
Các thành phố lớn: thủ đô Tokyo, Nagoya, Osaka, Fukuoka, Hiroshima, Sapporo, Kyoto, Naha.
Đơn vị tiền tệ: đồng Yên Nhật (JPY), 1JPY ~ 270 VND
GDP bình quân: đứng thứ 2 trên thế giới
Quốc kỳ: có tên là Nisshoki hay còn được gọi là Hinomaru (vầng mặt trời)
Quốc ca: tên gọi là Kimi Ga Yo
Quốc hoa: Hoa anh đào (sakura) được mệnh danh là “hồn hoa xứ Phù Tang”)
Bốn hòn đảo chính: Hokkaido, Honshu, Kyushu và Okinawa
Vị trí địa lý và địa hình:
Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương. Nhật Bản gồm 4 đảo chính, Honshu, Hokkaido, Kyushuy và Shikoku, nhiều dãy đảo và khoảng 3.900 đảo nhỏ. Honshu chiếm trên 60% diện tích.
Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là: Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển Đông Hải là: Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam là: Philippines và quần đảo Bắc Mariana.
Khí hậu:
Các đảo Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu ôn hòa. Ở hầu hết các miền của Nhật Bản đều có 4 mùa rõ rệt. Mùa hè ấm và ẩm, bắt đầu khoảng giữa tháng 7; Mùa Xuân và mùa Thu là những mùa dễ chịu nhất trong năm.
Vì có mưa nhiều và khí hậu ôn hòa nên trên khắp quần đảo Nhật Bản đều có những cánh rừng màu mỡ và cây cối xanh tốt.
Dân số và kinh tế:
Nhật Bản là một trong những nước có tuổi thọ dân số cao nhất thế giới, trung bình là 81,25 vào năm 2006. Tuy nhiên, dân số nước này đang lão hóa do hậu quả của sự bùng nổ dân số sau Thế chiến thứ hai.
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên, ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh. Tuy nhiên, với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi trong những năm 1945 – 1954, phát triển cao độ trong những năm 1955 – 1973 khiến cho cả thế giới hết sức kinh ngạc và khâm phục.
Nhật Bản là một nước có nền kinh tế công nghiệp – tài chính – thương mại – dịch vụ – khoa học kĩ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (đứng sau Hoa Kỳ). Cán cân thương mại và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới.
Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới.
Tôn giáo:
Đạo gốc của Nhật  Bản là Thần đạo (đạo Shinto), có nguồn gốc từ thuyết vật linh của người Nhật cổ. Qua Trung Quốc và Triều Tiên, Phật giáo được du nhập từ Ấn Độ vào Nhật Bản từ khoảng giữa thế kỷ thứ VI. Khoảng 84% đến 96% dân số Nhật theo cả đạoShinto và Phật giáo.
Hệ thống chính trị:
Hoàng gia Nhật do Nhật hoàng đứng đầu. Theo Hiến pháp Nhật thì “Hoàng đế Nhật là biểu tượng của quốc gia và cho sự thống nhất của dân tộc”. Nhật hoàng sẽ tham gia vào các nghi lễ của quốc gia nhưng không giữ bất kì quyền lực chính trị nào, thậm chí trong các tình huống khẩn cấp của quốc gia. Quyền lực này sẽ do Thủ tướng và các thành viên nghị viện đảm nhận.
Văn hoá và phong tục tập quán:
Người Nhật rất coi trọng sự chào hỏi, ở đâu, lúc nào và đối với bất cứ ai họ cũng đều tỏ ra rất lịch sự và nghiêm túc trong việc chào hỏi lẫn nhau, đó là một tập quán tốt đẹp của người Nhật.
Tặng quà là một phần trung tâm trong văn hoá kinh doanh của người Nhật. Nói chung, người Nhật rất thích tặng quà hay đúng hơn, việc tặng quà đã trở thành một thói quen, một lễ nghi không thể thiếu được trong đời sống thường ngày của họ. Tặng quà được xem như một cách thể hiện sự yêu mến và kính trọng lẫn nhau và để xác định các mối quan hệ xã hội.
Phương tiện giao thông:
Tại các thành phố lớn tại Nhật Bản, phương tiện giao thông phổ biến nhất là tàu điện và tàu điện ngầm. Tàu điện và tàu điện ngầm rất thuận tiện và đúng giờ.
Bên cạnh  đó, một số người cũng sử dụng xe buýt. Tuy nhiên xe buýt không tiện lợi so với các phương tiện trên do có số lượng chuyến không nhiều và có khả năng không đúng giờ vào những giờ cao điểm.
Giá dịch vụ taxi ở Nhật tương đối đắt. Cước phí được tính theo km và thay đổi theo giờ; buổi tối đắt hơn giá ban ngày. Ngoài  ra, xe đạp là phương tiện khá tiện lợi và kinh tế.

Trang phục truyển thống:
Người Nhật đã sử dụng kimono trong vài trăm năm. Ngày nay, kimono thường chỉ được sử dụng vào các dịp lễ tết. Phụ nữ Nhật mặc kimono phổ biến hơn nam giới, thường có màu và hoa văn nổi bật. Phái nam dùng kimono chủ yếu trong lễ cưới và buổi lễ trà đạo, và kimono dành cho nam giới thường không có hoa văn, và màu tối hơn.
Kimono dành cho phụ nữ chỉ có một cỡ duy nhất, người mặc cần phải bó y phục lại cho phù hợp với bản thân mình. Kimono có 2 loại, tay rộng và tay ngắn. Phụ nữ đã lấy chồng thường không mặc loại tay rộng, vì rất vướng víu khi làm việc.
Yukata là loại kimono mỏng mặc mùa hè, thường làm bằng vải mát như cotton. Khi đến onsen (suối nước nóng), người ta thường mặc yukata.
Văn hoá ẩm thực:
Người Nhật cũng có các thức ăn theo mùa. Chẳng hạn như vào mùa đông, các loại quít tượng trưng cho mặt trời và được người ta dùng làm quà năm mới. Mùa xuân có gạo anh đào. Tháng 9 là tháng của mặt trăng, và những món hầm trắng được ưa chuộng – bào ngư, dưa leo và măng.
Bữa ăn của người Nhật được bài trí rất đẹp mắt, nhưng cũng đơn giản và khiêm tốn. Bữa tối là bữa ăn chính, bắt đầu bằng món khai vị và một ly nhỏ rượu sake, một loại rượu gạo lên men thường uống nóng. Bữa ăn được bày trên một bàn thấp, và người ta ngồi trên những chiếc gối kê trên nền nhà được trải tatami.
So với những nước khác, cách nấu nướng của người Nhật hầu như không sử dụng đến gia vị. Thay vào đó, người ta tập trung vào các hương vị tinh khiết của các thành phần món ăn.
Tên một số món ăn truyền thống của người Nhật: sashimi, sushi, tonkatsu, yakitori, misoshiru, udon, sukiyaki.
nguồn :tin ngày mới 24h